Trầm cảm, đái tháo đường: “Cặp đôi hoàn cảnh” ít được nói đến

TS.BS Nguyễn Văn Sĩ, Giảng viên chính Trung tâm Bác sĩ gia đình, Đại học Y Dược TP.HCM; Phó Trưởng khoa Tim mạch, Bệnh viện Nguyễn Trãi

Trong vài năm gần đây, y học ngày càng nhận thấy một sự thật đáng lo ngại: Trầm cảm và đái tháo đường type 2 liên quan với nhau nhiều hơn chúng ta tưởng.

 Năm nay 44 tuổi, chị H., nhân viên văn phòng, đã có tiền sử trầm cảm sau ly hôn. Trong suốt hai năm trời, chị ít vận động, thường xuyên mất ngủ và ăn uống thất thường. Sau một thời gian dài mệt mỏi triền miên và sụt cân, chị đi khám bệnh tổng quát theo lời khuyên của người nhà và được phát hiện đái tháo đường type 2. 

Chị chia sẻ: “Tôi cứ nghĩ mình mệt mỏi do stress, không ngờ do đái tháo đường. Đối với tôi, bây giờ mọi thứ thật sự hỗn độn và hoang mang”.

Trường hợp của chị H. là ví dụ về một câu chuyện được quan tâm nhiều gần đây và đã được y học chứng minh, đó là trầm cảm đi trước, đái tháo đường tiếp bước theo sau. Nhưng không chỉ là “cặp đôi hoàn cảnh”, mới đây nhiều nghiên cứu lớn còn chỉ ra rằng trầm cảm có thể là nguyên nhân làm tăng nguy cơ mắc đái tháo đường type 2, không chỉ là hệ quả của việc sống chung với bệnh.

Trầm cảm làm tăng nguy cơ bệnh đái tháo đường. Ảnh: Canva

Cụ thể một nghiên cứu đăng trên tạp chí Diabetes Care, sử dụng dữ liệu di truyền của 19.000 người mắc đái tháo đường type 2, 5.000 người được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm và 153.000 người tự báo cáo mắc bệnh trầm cảm tại Anh và Phần Lan đã tìm thấy mối quan hệ nhân - quả: Người từng bị trầm cảm có nguy cơ cao hơn mắc đái tháo đường type 2 và khoảng 36,5% mối liên hệ này không thể giải thích chỉ bằng béo phì.

Điều đó nghĩa là trầm cảm tác động trực tiếp đến quá trình chuyển hóa của cơ thể, thông qua nhiều cơ chế khác nhau như viêm mạn tính, giảm hoạt động, thay đổi hành vi ăn uống, rối loạn giấc ngủ, rối loạn nội tiết, suy giảm khả năng kiểm soát stress.

Vì sao trầm cảm làm tăng nguy cơ đái tháo đường?

Bước đầu các chuyên gia nhận ra 4 lý do sau:

- Stress kéo dài làm rối loạn hormone: Khi trầm cảm, cơ thể thường phóng thích cortisol nhiều hơn. Cortisol tăng kéo dài làm tăng đường huyết, giảm nhạy cảm insulin và góp phần hình thành bệnh đái tháo đường.

- Viêm mạn tính mức độ nhẹ: Một số gene liên quan đến viêm thần kinh, tuyến tụy, mô mỡ được phát hiện là liên quan đến trầm cảm lẫn đái tháo đường. Điều này giải thích tại sao trầm cảm có thể dẫn đến rối loạn chuyển hóa dù người bệnh không thừa cân.

- Hành vi không lành mạnh do tâm trạng xấu: Ăn uống mất kiểm soát, ngủ kém, giảm vận động thể lực là những thay đổi thường gặp khi trầm cảm. Đây đều là những yếu tố nguy cơ của đái tháo đường.

- Giảm động lực tự chăm sóc bản thân: Trầm cảm khiến việc tuân thủ chế độ ăn, sử dụng thuốc men và theo dõi sức khỏe trở nên khó khăn.

Hậu quả trầm cảm đi kèm đái tháo đường

Khi một người vừa bị trầm cảm vừa bị đái tháo đường, nguy cơ xuất hiện các biến chứng tăng lên rõ rệt do các lý do: Kiểm soát đường huyết kém hơn; giảm chất lượng cuộc sống; nguy cơ biến chứng mạch máu, tim mạch cao hơn; tăng tỷ lệ nhập viện và tái nhập viện; nguy cơ tử vong tăng lên.

Nhưng trên hết, những người bệnh này dễ rơi vào “vòng xoắn bệnh lý”: đái tháo đường làm trầm cảm nặng hơn, trầm cảm lại khiến việc điều trị đái tháo đường thất bại.

Đây chính là lý do trầm cảm cần được xem như một yếu tố nguy cơ của đái tháo đường, tương đương với béo phì, lối sống ít vận động hay tiền sử gia đình. Không chỉ nhân viên y tế mà người bệnh cũng cần trang bị kiến thức, từ đó xây dựng thái độ sống tích cực và hành vi chăm sóc sức khoẻ lành mạnh để quản lý hiệu quả hai tình trạng này.

Thay đổi nhỏ nhưng mang lại kết quả tích cực

Thông tin tốt lành là mối liên hệ giữa trầm cảm và đái tháo đường cũng mở ra thêm một cơ hội là hỗ trợ sức khỏe tâm thần chính là một phần thiết yếu của điều trị đái tháo đường.

- Điều chỉnh lối sống: Đây là nền tảng để giải quyết cả hai bệnh. Trước tiên, người bệnh cần tăng cường hoạt động thể lực ít nhất 150 phút/tuần, chia thành các buổi với những hình thức như đi bộ nhanh, bơi lội, đạp xe, tập yoga hoặc bất cứ hoạt động nào. Khoa học đã chứng minh hoạt động thể lực giúp cải thiện đường huyết, giảm đề kháng insulin, kích hoạt hormone “hạnh phúc tự nhiên” endorphin, giảm nguy cơ tái phát trầm cảm.

Tập thể dục giúp huyết áp ổn, tinh thần vui vẻ. Ảnh:Canva

Ngoài vận động, chế độ ăn lành mạnh cũng đóng vai trò quan trọng. Người bệnh cần tập trung vào rau xanh, ngũ cốc thô, cá, hạt, dầu thực vật; hạn chế đường tinh luyện và thực phẩm chế biến sẵn. Dinh dưỡng đúng sẽ giúp giảm đường huyết, cải thiện lipid máu, giảm triệu chứng trầm cảm.

Ăn uống cân bằng giúp cải thiện trầm cảm và ổn định đường huyết. Ảnh: Canva

Cuối cùng, thay đổi lối sống còn đến từ giấc ngủ. Ngủ đủ từ 7-9 giờ mỗi đêm giúp cơ thể duy trì cân bằng hormone, giảm nguy cơ đề kháng insulin và góp phần cải thiện các triệu chứng trầm cảm.

- Thực hành chánh niệm (mindfulness): Các chương trình thực hành chánh niệm như giảm stress dựa trên chánh niệm (Mindfulness Based Stress Reduction - MBSR hoặc liệu pháp nhận thức dựa trên chánh niệm (Mindfulness-Based Cognitive Therapy -  MBCT) trong đó có yoga, đã được chứng minh có vai trò giảm stress, lo âu và trầm cảm; giúp người bệnh dễ chấp nhận bệnh và giảm cảm giác “quá tải”; tăng động lực giữ lối sống lành mạnh, cải thiện đường huyết và giảm HbA1c. Ngày nay, chánh niệm không còn là xu hướng thời thượng mà là một công cụ y học hành vi có bằng chứng khoa học rõ ràng.

Thiền định không chỉ là xu hướng mà còn là phương pháp trị liệu tâm lý giúp giảm stress và cải thiện bệnh đái tháo đường. Ảnh: Canva

Trở lại trường hợp chị H., sau khi được bác sĩ tư vấn, chị nhận thức rõ tình trạng bệnh đái tháo đường có thể điều trị được và cần kiểm soát trầm cảm bằng lối sống tích cực. Chị bắt đầu đi bộ 20-30 phút mỗi ngày và điều chỉnh chế độ ăn song song với việc tuân thủ dùng thuốc. Mỗi lần tái khám định kỳ, chị đều được bác sĩ thảo luận kỹ về các khó khăn trong quá trình điều trị. Kết quả là sau ba tháng thay đổi lối sống, chị H. thấy mình ngủ tốt hơn, bớt lo âu và đường huyết theo dõi tại nhà ổn định. Bác sĩ điều trị cũng ghi nhận HbA1c của chị giảm từ 8.1% xuống 6.7%.

Chị chia sẻ: “Tôi không nghĩ chỉ cần thay đổi một vài điều nhỏ lại có thể dẫn đến kết quả lớn như vậy. Không những chỉ số đường huyết cải thiện, cuộc sống của tôi cũng cân bằng và tốt đẹp hơn.”

Theo TSK số 701  

[Banner Mid] Hồng Phát


Ý kiến của bạn

{% item.name %}

{% item.comment %}

Đọc thêm

sile Youtube video

Trầm cảm gây hại cho tim mạch

23/12/2025 00:00:00 GMT+0700

Nghiên cứu mới cho thấy trầm cảm có thể âm thầm làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, ngay cả ở những người khỏe mạnh.

sile

Trầm cảm, đái tháo đường: “Cặp đôi hoàn cảnh” ít được nói đến

01/12/2025 00:00:00 GMT+0700

Trong vài năm gần đây, y học ngày càng nhận thấy một sự thật đáng lo ngại: Trầm cảm và đái tháo đường type 2 liên quan với nhau nhiều hơn chúng ta tưởng.

sile

Rối loạn tâm thần do COVID

04/09/2023 09:20:00 GMT+0700

Một số đáng kể các bệnh nhân mắc COVID-19 vẫn tiếp tục có những triệu chứng sau giai đoạn cấp của bệnh, và những triệu chứng này kéo dài hàng tuần đến hàng tháng, có thể là ho, mệt mỏi, đau nhức mạn tính và những than phiền về tâm lý - tâm thần. Các chẩn đoán tâm thần thường gặp nhất là các rối loạn lo âu, rối loạn khí sắc, lạm dụng chất gây nghiện và mất ngủ.

sile

Điều trị một giai đoạn trầm cảm kể cả trong trường hợp nhẹ

17/05/2023 09:09:00 GMT+0700

Cho dù giai đoạn trầm cảm nhẹ hay nặng nguy cơ biến chứng đều như nhau: mãn tính hóa, tự tử, tách rời đời sống cộng đồng. Đã được chứng minh: tiên lượng xấu nếu chẩn đoán hay điều trị trễ; hoặc giả, điều trị không dập tắt được hoàn toàn giai đoạn trầm cảm.

sile

Thuốc giải lo âu

17/05/2023 08:51:00 GMT+0700

Thuốc giải lo âu là những thuốc hướng tâm thần mà hiệu quả lâm sàng nổi bật ở liều thông thường là giảm căng thẳng về mặt cảm xúc hay lo âu, tức hiệu quả giải lo âu. Thông thường cũng được gọi “thuốc bình thản”, “thuốc an thần”.

sile

Mệt mỏi

17/05/2023 07:34:00 GMT+0700

Mệt mỏi là một cảm giác mệt quá sức do các yếu tố thể chất, tinh thần và tình cảm. Người bệnh lúc nào cũng có cảm giác như thiếu năng lượng, giảm đi sức sống. Đa số trường hợp gây ra mệt mỏi là do nguyên nhân lành tính. Tuy nhiên, một số trường hợp có thể do một bệnh nguy hiểm tiềm ẩn, dễ bị bỏ sót.

sile

{% item.title %}

{% item.time_ago %}

{% item.short_description %}