Căng thẳng khiến tóc bạc?
Nhiều người cho rằng căng thẳng khiến tóc bạc, nhưng theo bác sĩ Paradi Mirmirani tại Trung tâm Y tế Kaiser Permanente (Mỹ), y học chưa xác nhận chuyện này. Thật vậy, trong khi một vài nghiên cứu ghi nhận mối liên hệ nhân quả căng thẳng-tóc bạc thì những nghiên cứu khác lại phủ nhận. Một nghiên cứu vào năm 2016 trên hơn 1.100 người Thổ Nhĩ Kỳ đã ghi nhận 315 người tóc bạc sớm có mức độ căng thẳng cao hơn đáng kể so với những người không căng thẳng. Nhưng phải lưu ý, phần lớn người trong nhóm tóc bạc sớm cũng có cha, mẹ bạc tóc khi còn trẻ, có tiền sử dùng rượu hoặc mắc các bệnh mạn tính.

Không chỉ căng thẳng, yếu tố di truyền cũng khiến tóc bạc. Ảnh: New York Times.
Ngoài căng thẳng, yếu tố di truyền cũng góp phần làm tóc bạc. Bác sĩ da liễu Victoria Barbosa của đại học Chicago (Mỹ), cho biết nếu cha mẹ bạn bạc tóc sớm thì nhiều khả năng bạn cũng bạc tóc. Ngoài ra, một số bệnh lý cũng có thể khiến tóc mất sắc tố như bệnh bạch biến; tuyến giáp hoạt động quá mức hoặc dưới mức bình thường; hóa trị ung thư; thiếu hụt sắt, canxi, vitamin D, vitamin B12; béo phì và thói quen hút thuốc lá.
Phụ nữ ngáy ít hơn đàn ông?
Khoa học xác nhận phụ nữ ngáy ít hơn đàn ông. Theo bác sĩ Ryan Chin Taw Cheong, chuyên gia tai mũi họng tại Bệnh viện Đại học College London (Anh Quốc), sự khác biệt nằm ở đặc điểm sinh lý đường thở.
Ngáy xảy ra khi luồng không khí bị tắc nghẽn một phần ở đường hô hấp trên, gây ra rung động ở phía sau mũi, vòm họng, cổ họng, lưỡi hoặc nắp thanh quản (nắp đậy khí quản). Điều này xảy ra vì các cơ của đường thở giãn ra khi chúng ta ngủ và bị trọng lực kéo xuống khi chúng ta nằm trên giường. Tuy nhiên, ở phụ nữ hormone estrogen và progesterone lại giúp cơ vùng họng săn chắc, nhờ đó hạn chế rung động và giảm ngáy.

Do đặc điểm sinh lý nên phụ nữ ngáy ít hơn đàn ông. Ảnh: Guardian.
Theo bác sĩ Ryan, nam giới ngáy nhiều hơn phụ nữ gấp 2 lần. Nhưng khoảng cách này thu hẹp ở hai thời kỳ quan trọng của phụ nữ là mãn kinh và mang thai. Đặc biệt ở 3 tháng cuối thai kỳ khi phụ nữ tăng cân khiến đường thở chịu áp lực nhiều hơn. Ngoài ra, các yếu tố như uống rượu, tăng cân, dị ứng, polyp mũi, lệch vách ngăn mũi hay cảm lạnh gây tắt đường thở cũng có thể gây ngáy
| NHAI KẸO CAO SU CÓ HẠI CHO SỨC KHỎE? Nhai kẹo cao su là thói quen phổ biến của con người ngày nay. Theo các chuyên gia, thói quen này mang lại lợi ích lẫn rủi ro cho sức khỏe.. Giáo sư Peter Arsenault,của Đại học Tufts cho biết nhai kẹo cao su giúp kích thích tiết nước bọt, qua đó trung hòa axit trong khoang miệng, hỗ trợ làm sạch mảng bám và cải thiện hơi thở. Ngoài ra, kẹo cao su không đường, đặc biệt loại chứa xylitol, cũng có ích cho sức khỏe răng miệng. Một nghiên cứu vào năm 2022 cho thấy nhai kẹo cao su chứa xylitol sau bữa ăn có thể giúp giảm 17% nguy cơ sâu răng. Thói quen này còn góp phần làm giảm ợ nóng, hỗ trợ tiêu hóa và cải thiện khả năng tập trung trong thời gian ngắn.
Nhai kẹo thường xuyên gây ra các vấn đề về khớp hàm. Ảnh: New York Times. Tuy nhiên, nhai kẹo cao su quá thường xuyên lại có thể gây mỏi cơ hàm, làm trầm trọng các vấn đề về khớp hàm và gây đầy hơi do nuốt nhiều không khí. Chưa kể một số loại kẹo cao su cũng có thể giải phóng vi nhựa trong quá trình nhai. Vì vậy, các chuyên gia khuyên bạn nên dùng kẹo cao su ở mức vừa phải và ưu tiên loại không đường để hạn chế rủi ro về sức khỏe. |
Vì sao chúng ta ngáp?
Ngáp không chỉ là phản xạ tự nhiên mà còn mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể. Theo Andrew Gallup, giáo sư sinh học hành vi tại Đại học Johns Hopkins (Mỹ), ngáp giúp não bộ hoạt động tốt hơn. Khi ngáp, hàm mở rộng và hít sâu, giúp máu lưu thông lên não đồng thời như một động tác kéo giãn cục bộ, hỗ trợ tuần hoàn toàn thân. Từ đó, Gallup cho rằng ngáp giúp điều hòa nhiệt độ trong và chung quanh não. Ngoài ra, ngáp đóng vai trò như một công tắc, giúp não chuyển từ buồn ngủ, chán nản sang tỉnh táo và tập trung.
Hiện tượng "ngáp lây lan" xảy ra giúp các cá thể chuyển từ thư giãn sang hoạt động. Ảnh: Guardian.
Vậy tại sao chúng ta lại ngáp theo khi thấy người khác ngáp? Thực chất đây là hiện tượng “ngáp lây lan”, xảy ra khi các “tế bào thần kinh gương”, những tế bào thần kinh đặc biệt trong não, giúp chúng ta bắt chước và đồng cảm với hành vi của người khác. Ngáp lây lan cũng có vai trò phối hợp nhóm, giúp mọi cá thể trong nhóm chuyển từ thư giãn sang hoạt động. Một nghiên cứu vào năm 2021 ở sư tử phát hiện ra rằng một số hành vi khác cũng có thể lây lan ở những con vật ngáp. Ví dụ khi một con sư tử đang nằm ngáp rồi đứng dậy đi dạo thì những con khác cũng ngáp theo và… bắt chước đi dạo.
Kéo giãn cơ trước tập luyện giúp giảm chấn thương
Alex Dinsdale, Đại học Leeds Beckett (Anh) cho biết, hiệu quả của giãn cơ trước khi tập phụ thuộc nhiều vào việc thực hiện hình thức giãn cơ nào.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến chấn thương trong tập luyện như mệt mỏi hoặc mang giày tập không phù hợp, nhưng chỉ có hai yếu tố chính dẫn đến chấn thương là thiếu biên độ vận động cần thiết và không đủ sức mạnh để kiểm soát chuyển động.
Khi nói đến giãn cơ, người ta thường nghĩ đến giãn cơ tĩnh, tức là giữ một tư thế kéo giãn trong vài giây. Cách này, theo Dinsdale giúp tăng độ linh hoạt, nhưng cũng làm giảm khoảng 5% lực cơ bắp tạo ra. Ngược lại, khi giãn cơ động, nghĩa là vừa giãn vừa chuyển động thông qua các bài tập như squat (đứng lên-ngồi xuống) hay lunge (chùng chân), mang lại lợi ích cân bằng hơn, làm tăng lực cơ và độ linh hoạt.

Cần khởi động nhẹ trước khi tập luyện. Ảnh: Guardian.
Để hạn chế chấn thương, cách chuẩn bị tối ưu trước khi vận động là khởi động nhẹ bằng những động tác tương tự bài tập sắp thực hiện, chẳng hạn như đi bộ nhanh trước khi chạy. Khi cơ bắp được làm ấm, chúng hoạt động linh hoạt và hiệu quả hơn. Sau đó, thực hiện một vài động tác giãn cơ động để giúp cơ thể làm quen với chuyển động. Cuối cùng, có thể bổ sung các động tác mạnh và nhanh như bật nhảy hoặc chạy nước rút ngắn để kích hoạt hệ thần kinh - cơ, đưa cơ thể vào trạng thái sẵn sàng tập luyện.
Vì sao có người ngủ ít hơn người khác?
Trong khi phần lớn chúng ta cần 7–9 giờ ngủ để cơ thể phục hồi, thì một số người vẫn giữ được tinh thần minh mẫn chỉ với 6 giờ ngủ hoặc ít hơn. Nguyên nhân chính của khác biệt này là yếu tố di truyền.
Năm 2009, giáo sư Ying-Hui Fu và nhóm nghiên cứu Đại học California (Mỹ), phát hiện một đột biến trong gen tế bào sụn phôi biệt hóa 2 (DEC2) ở những người ngủ ít bẩm sinh. Nghiên cứu tiếp theo vào năm 2018 cho thấy đột biến gen DEC2 ảnh hưởng đến nồng độ orexin, một loại hormone điều chỉnh tỉnh táo. Thông thường gen DEC2 ngừng sản xuất orexin vào buổi tối và sản xuất trở lại trước buổi sáng. Nhưng ở người ngủ ít bẩm sinh, tác dụng của gen DEC2 yếu hơn, dẫn đến sản xuất nhiều orexin và kéo dài thời gian tỉnh táo.

Yếu tố di truyền, tuổi tác ảnh hưởng đến số giờ ngủ. Ảnh: Popular-Science.
Vài nghiên cứu sau đó còn tìm ra các gen khác như ADRB1, NPSR1, mGluR1 cũng tăng hoạt động thần kinh, kéo dài thời gian thức mà không ảnh hưởng đến trí nhớ hay hiệu suất nhận thức.
Ngoài yếu tố di truyền, tuổi tác cũng ảnh hưởng đến số giờ ngủ của một người. Nhìn chung, trẻ sơ sinh, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cần ngủ nhiều hơn người lớn để hỗ trợ phát triển cơ thể họ.
Nếu bạn có quá nhiều việc và mong có nhiều giờ hơn trong ngày để giải quyết, bạn có thể tự hỏi: Liệu tôi có thể rèn luyện để ngủ ít hơn không? Câu trả lời là không, bởi số giờ ngủ bạn muốn có được quyết định bởi gen và tuổi tác.
Vì vậy, mặc dù bạn có thể xây dựng khả năng chịu đựng với tình trạng thiếu ngủ, nhưng điều đó không giống với việc ngủ ít hơn. Hầu hết chúng ta cần 7-9 tiếng ngủ mỗi đêm để đạt hiệu quả tốt nhất. Ngủ ít hơn khiến cho suy nghĩ và phản xạ chậm chạp, lâu dài có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe. Vì vậy, hãy lắng nghe cơ thể. Ép mình ngủ ít là một việc làm vô ích.
| VÌ SAO CON NGƯỜI LÙN ĐI KHI VỀ GIÀ? Giảm chiều cao là một dấu hiệu đặc trưng không thể tránh khỏi của quá trình lão hóa. Theo giáo sư Adam Taylor tại Đại học Lancaster (Anh), sau 40 tuổi chúng ta thường mất 1cm chiều cao sau mỗi 10 năm và phụ nữ thường giảm nhanh hơn nam giới. Cụ thể, nếu mỗi năm nam giới giảm 0,08-0,1% chiều cao thì phụ nữ giảm 0,12-0,14%.
Sự thay đổi sinh học bên trong cơ thể khiến cơ thể trong lùn đi. Ảnh: Guardian. Nguyên nhân của sự “lùn đi” này chủ yếu do những thay đổi sinh học bên trong cơ thể. Từ 30-35 tuổi, chiều cao chững lại khi khối lượng xương và cơ bắt đầu giảm. Các đĩa đệm giữa những đốt cột sống cũng mất nước và bắt đầu co lại. Mật độ xương ở cột sống, xương chậu, chi dưới và khối lượng cơ bắp suy giảm khiến xương không còn đủ lực để duy trì hình dạng cơ thể. Ngoài ra, thói quen cúi lưng hoặc khom người khi lớn tuổi cũng góp phần làm chiều cao giảm nhanh hơn. Vậy làm thế nào để hạn chế tình trạng này? Trên thực tế, bạn không thể ngăn chặn việc giảm chiều cao theo tuổi tác, nhưng hoàn toàn có thể làm chậm quá trình đó. Chế độ ăn giàu canxi, vitamin D, các bài vận động chịu trọng lượng, hạn chế thuốc lá, rượu bia và duy trì tư thế đúng trong sinh hoạt hằng ngày sẽ giúp xương và cơ bắp khỏe hơn, từ đó giảm bớt mức độ sụt giảm chiều cao |
Theo TSK số 703-704
![[Banner Top] Medlaw](/uploads/a7259844-bfd9-4875-9a6c-a7f560b6be97.jpg)
![[Banner Top] Hồng Phát](/uploads/88dbe592-ac75-433d-94aa-d42b69ff5a0c.jpg)



![[Banner Mid] Hồng Phát](/uploads/0a12ba57-9f3d-4828-94da-cf937789b409.jpg)
![[Banner Side] Medlaw](/uploads/b729448e-c98e-455a-9d7a-9e658c271f5b.jpg)
Ý kiến của bạn
{% item.name %}
{% item.comment %}