Trong ẩm thực, các bộ phận của cây thì là (thân, hạt và lá tươi) đều chứa hàm lượng tinh dầu cao, tạo ra mùi thơm đặc trưng, hơi hắc nhưng vị ngọt nhẹ.

Thì là mang lại nhiều lợi ích cho tiêu hóa và tim mạch. Ảnh: Canva
Tại Việt Nam, lá thì là tươi thường được sử dụng trong các món hải sản không chỉ nhằm mục đích “át mùi tanh” bằng tinh dầu thơm, mà xét về mặt y lý, tính ấm của thì là còn giúp trung hòa tính “hàn” của hải sản, kích thích tiêu hóa và ngăn ngừa đau bụng do lạnh. Theo y học cổ truyền, thì là có vị cay, tính ấm. Quy kinh Tỳ, Vị, Thận, có công dụng ôn trung tán hàn, lý khí, chỉ thống, kiện tỳ tiêu thực. Trong thành phần hóa học của thì là có tinh dầu (chiếm 2.5% - 3.5% ở hạt có thành phần: chủ yếu là D-carvone - mang lại mùi đặc trưng, D-limonene, và phellandrene) và các hợp chất phenolic (quercetin, kaempferol), tannin và terpenoid.
Cho đến nay thế giới có khá nhiều nghiên cứu về thì là, cả y học cổ truyền và y học hiện đại, ghi nhận một số công dụng sau:
- Kháng khuẩn: Trên thực nghiệm người ta thấy thành phần carvone và limonene trong tinh dầu hạt thì là thể hiện hoạt tính kháng khuẩn phổ rộng (gram âm, gram dương) và diệt nấm mạnh mẽ do phá vỡ màng tế bào của vi sinh vật. Điều này lý giải tính khoa học của các bài thuốc đắp ngoài đắp lên các nốt mụn nhọt, sưng tấy nhằm mục đích giải độc, tiêu thũng hoặc xông hơi trị liệu của Y học cổ truyền.
- Tác dụng trên hệ tiêu hóa: Do tác dụng ôn trung tán hàn, lý khí tiêu thực, thì là thúc đẩy bài tiết dịch vị, bảo vệ niêm mạc ruột và tăng nhu động ruột, giúp điều trị chứng chướng bụng, đầy hơi, ăn không tiêu, nôn mửa do lạnh.
- Tính ấm, giúp ôn kinh, tán hàn, hành khí để giảm đau bụng kinh: Chiết xuất thì là có tác dụng ức chế co thắt tử cung, ức chế gây viêm và gây giãn mạch máu làm giảm đau bụng kinh.
- Điều hòa chuyển hóa lipid và đường huyết: Một số nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm lâm sàng quy mô nhỏ cho thấy chiết xuất thì là có khả năng cải thiện độ nhạy insulin và hạ đường huyết. Hoạt chất eugenol trong cây hỗ trợ chức năng của các tế bào beta tuyến tụy, đồng thời nó cũng làm giảm đáng kể nồng độ triglyceride và cholesterol toàn phần.
- Tốt cho tim mạch: Hợp chất flavonoid là chất chống oxy hóa, chống viêm rất tốt cho sức khỏe hệ tim mạch.

Dùng thì là liều cao có thể làm tăng tác dụng của thuốc hạ đường huyết và mỡ máu. Ảnh: Canva
Sử dụng thì là trong phòng trị bệnh
Theo sách Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của GS.TS Đỗ Tất Lợi, hạt thì là được dùng làm thuốc kích thích trung tiện, lợi sữa, chữa đau bụng ở trẻ em, dùng dưới hình thức nước cất quả thìa là, mỗi ngày uống 50–100g để trợ tiêu hóa hoặc dưới dạng thuốc pha 4-8g trong 1 lít nước. Nếu dùng tinh dầu thì mỗi ngày 250mg đến 1g, nhỏ vào đường hay nước đường để uống.
Trên thế giới, các nghiên cứu sử dụng thì là trong các trường hợp sau:
- Kiểm soát rối loạn lipid máu và hỗ trợ đường huyết: Liều dùng: 1.000mg - 3.000mg bột hạt thì là (chia 2-3 lần/ngày) hoặc dạng chiết xuất tương đương. Thời gian dùng thường kéo dài từ 6-8 tuần để ghi nhận sự thay đổi rõ rệt trên các chỉ số sinh hóa (HbA1c, Triglyceride).
- Điều trị thống kinh nguyên phát (đau bụng kinh): Liều dùng: 250 mg - 1.000 mg chiết xuất thì là (hoặc bột hạt). Uống mỗi 6-8 giờ, bắt đầu từ ngày đầu tiên hoặc trước 1-2 ngày khi kỳ kinh bắt đầu, kéo dài trong 2-3 ngày đầu.
- Hỗ trợ tiêu hóa (chướng bụng, co thắt dạ dày - ruột): Dạng hãm (trà): Dùng 1- 3g hạt thì là, nghiền nhẹ, hãm với 250ml nước sôi trong 10-15 phút. Uống sau bữa ăn. Dạng tinh dầu: 1-2 giọt pha loãng trong nước hoặc mật ong (cần có chỉ định của chuyên gia do tinh dầu nguyên chất rất mạnh).
| LƯU Ý KHI SỬ DỤNG THÌ LÀ Do thành phần thì là chủ yếu là tinh dầu, nên tuyệt đối tránh đun sôi nó liên tục ở nhiệt độ cao trong thời gian dài. Nếu dùng trong dạng thuốc sắc của YHCT, nên cho hạt thì là vào ở giai đoạn cuối (khoảng 5-10 phút trước khi tắt bếp). Chỉ nên giã dập hoặc nghiền hạt thì là ngay trước khi sử dụng để tránh việc tinh dầu bị bay hơi nếu bảo quản dạng bột quá lâu. Ngoài ra, những trường hợp sau cũng nên thận trọng khi sử dụng thì là: - Phụ nữ mang thai: Tránh sử dụng chiết xuất thì là liều cao do tác dụng kích thích co bóp cơ trơn tử cung nhẹ, có thể làm tăng nguy cơ sẩy thai. Dùng lượng nhỏ như gia vị trong thực phẩm thì vẫn an toàn. - Viêm da tiếp xúc: Tinh dầu thì là nguyên chất có thể gây kích ứng da hoặc nhạy cảm với ánh sáng do chứa furanocoumarin, nên cần phải pha loãng với dầu nền (dầu dừa, dầu hạnh nhân) trước khi thoa lên da. - Tương tác thuốc: Cần thận trọng khi dùng chung liều cao với các thuốc hạ đường huyết hoặc thuốc giảm mỡ máu vì có thể gây ra tác dụng hiệp đồng, làm tụt đường huyết hoặc hạ mỡ máu quá mức. |
Theo TSK số 705
![[Banner Top] Medlaw](/uploads/a7259844-bfd9-4875-9a6c-a7f560b6be97.jpg)
![[Banner Top] Hồng Phát](/uploads/88dbe592-ac75-433d-94aa-d42b69ff5a0c.jpg)

![[Banner Mid] Hồng Phát](/uploads/0a12ba57-9f3d-4828-94da-cf937789b409.jpg)
![[Banner Side] Medlaw](/uploads/b729448e-c98e-455a-9d7a-9e658c271f5b.jpg)
Ý kiến của bạn
{% item.name %}
{% item.comment %}