Y học cổ truyền

06/02/2026 GMT+0700

Ngựa trong y học cổ truyền

ThS.BS DƯƠNG PHAN NGUYÊN ĐỨC - Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM Cơ sở 3

Trong văn hóa phương Đông, ngựa là hình ảnh quen thuộc gắn liền với sức bền, sự trung thành và tinh thần tiến thủ. Năm Bính Ngọ vì thế luôn gợi lên khí xuân mạnh mẽ, vận động không ngừng và khát vọng vươn xa.

Ít ai biết rằng bên cạnh vai trò là loài vật gắn bó mật thiết với đời - sống lao động và quân sự, ngựa còn để lại dấu ấn riêng trong kho tàng y học cổ truyền. Dù số lượng vị thuốc có nguồn gốc từ ngựa không nhiều và ngày nay ít được sử dụng, nhưng những ghi chép về chúng vẫn phán ảnh rõ tư duy quan sát tinh tế, cách quy nạp kinh nghiệm và hệ thống hóa tri thức y học của người xưa.

Trong quá khứ, ngựa từng là bài thuốc quý trong y học cổ truyền. Ảnh: Freepik

Trong những ngày đầu năm Bính Ngọ này, ta cùng thong dong đạo một vòng tìm hiểu những vị thuốc có nguồn gốc từ loài ngựa, vừa dân dã, vừa thấm đầm tinh thân y học cổ truyền.

Những vị thuốc từ ngựa

Trong hệ thống tư duy của y học cổ truyền, động vật không chỉ được nhìn nhận qua giá trị kinh tế hay biểu tượng văn hóa, mà còn được quan sát một cách toàn diện về thể chất, tập tỉnh, mức độ vận động và mối liên hệ với tự nhiên, từ đó quy nạp thành các đặc tính dược học đặc trưng.

Ngựa (tên khoa học Equus ferus caballus Linnaeus), thuộc họ Ngựa (Equidae), là loài có thể hình cao lớn, cơ bắp phát triển, khí huyết lưu thông - mạnh và khả năng vận động bên bỉ. Những đặc điểm này khiến cổ nhân xem ngựa như hình ảnh tiêu biểu của dương khí sung mạch, khả năng thích nghi với điều kiện khắc nghiệt và tinh lực dồi dào. Trên cơ sở quan sát đó, trong y thư cổ truyền, các vị thuốc có nguồn gốc từ ngựa thường liên quan đến công dụng bổ dưỡng, thanh nhiệt, điều hòa khí huyết, hỗ trợ phục hồi sinh lực, phù hợp với những chứng trạng âm hư nội nhiệt, khí huyết bất điều hoặc hư tổn sau bệnh nặng.

Một số vị thuốc nổi bật có nguồn gốc từ ngựa được ghi chép trong y học cổ truyền có thể kể đến dưới đây:

Mã nhục (thịt ngựa): Trong một số ghi chép y học cổ truyền, Mã nhục được mô tả có vị ngọt, tính hàn, lợi ích chủ yếu liên quan đến bổ gân, cường cơ. Dùng thịt ngựa đực màu trắng thì càng tốt. Theo quan điểm y học cổ truyền, ăn thịt ngựa giúp cho trẻ em cứng cáp, nhanh nhẹn; thanh niên vạm vỡ, cường tráng; còn người già không đau nhức, sống lâu. Dùng thịt ngựa làm nem mà ăn còn chữa được chứng sốt rét, tê bại.

Mã nhũ (sữa ngựa): Theo y học cổ truyền, sữa ngựa có vị ngọt, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, tiêu khát, nhuận táo. Theo kinh nghiệm sử dụng lâu đời của các cộng đồng du mục, sữa ngựa được xem là một loại thực phẩm - dược liệu có giá trị bổ dưỡng và phục hồi sức khỏe. Sữa ngựa được dùng dưới dạng sữa tươi hoặc lên men (sữa ngựa chua), có tác dụng giúp cơ thể tỉnh táo, nhanh nhẹn, nâng cao thể lực, đặc biệt phù hợp với những người lao động nặng nhọc hoặc sống trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Tuy nhiên, không nên tiêu thụ nhiều sữa ngựa do có thể làm cho cơ thể gầy ốm.

Cộng đồng du mục tin sữa ngựa giúp tăng tỉnh táo, nhanh nhẹn và nâng cao thể lực. Ảnh: The Sun

Mã cốt (xương ngựa): Xương ngựa có vị ngọt, tính mát, có tác dụng bổ dưỡng, ích khí, mạnh gân xương. Xương ngựa bạch thường được nấu thành cao để chữa suy nhược cho người mới ốm dậy hay phụ nữ sau sinh, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, trẻ em còi xương, xanh xao, biếng ăn. Vị thuốc này cũng công hiệu ở người cao tuổi. Tuy nhiên, cần lưu ý không dùng xương ngựa hay cao xương ngựa cùng với các chất tanh như tôm, cá, cua, chất cay như tỏi, ớt, hạt tiêu, nước chè đặc, măng, đậu xanh, rau muống.

Mã bảo (sỏi kết tụ trong dạ dày và ruột ngựa): Mã bảo có vị ngọt mặn, tính hàn, có tác dụng trấn kinh, hóa đàm. Theo ghi chép từ Dược tính chỉ nam, Mã bảo có thể giải được người ngộ thuốc độc, trấn tĩnh được chứng kinh giản, hoặc chứng kinh hoảng sợ hãi, trẻ con kinh phong co giật, tinh thần hốt hoảng đến mức mất ngủ, ngây ngô rồ dại điên cuồng. Ngoài ra, tính nó chữa được các chứng đậu nguy kịch.

Ngoài những vị thuốc tiêu biểu đã được ghi nhận, một số y văn cổ của y học cổ truyền còn đề cập đến công dụng trị bệnh của nhiều bộ phận khác của ngựa như mã tâm (tim ngựa), mã can (gan ngựa), mã phế (phổi ngựa), mã vĩ (đuôi ngựa). Điều này cho thấy phạm vi ứng dụng của ngựa trong y dược cổ truyền từng khá đa dạng. Tuy nhiên, các cách dùng này phần lớn không được hệ thống hóa trong y thư chính thống, liều lượng và phương pháp chế biến không thống nhất, nên không được y học cổ truyền chính quy khuyến cáo. Điều này cũng phản ánh tinh thần thận trọng của y học cổ truyền: Không phải bất cứ kinh nghiệm dân gian nào cũng được đưa vào hệ thống lý luận nếu chưa qua quá trình sàng lọc và kiểm chứng lâu dài.

Gìn giữ, kế thừa nhưng tỉnh táo

Ngày nay, hầu hết vị thuốc có nguồn gốc từ ngựa được ghi chép trong y học cổ truyền không còn được sử dụng như lựa chọn thường quy trong thực hành y học vì chưa có đầy đủ bằng chứng khoa học hiện đại chứng minh hiệu quả điều trị bệnh.

Bên cạnh yếu tố khoa học, bối cảnh đương đại còn đặt ra những yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về bảo tồn động vật và y đức, khiến việc khai thác dược liệu từ ngựa, một loài vật có giá trị sinh thái và văn hóa, cần được cân nhắc thận trọng.

Y học cổ truyền ngày nay vì thế đề cao nguyên tắc không khai thác vì tính hiếm, không sử dụng mang tính tràn lan hay hình thức, mà chỉ xem xét trong những trường hợp thật sự cần thiết, khi tình trạng bệnh lý phù hợp với đặc tính dược học được ghi nhận và không có lựa chọn thay thế an toàn hơn.

Điều đáng quý là tinh thần của y học cổ truyền không nằm ở việc “phải dùng cho đủ” các vị thuốc cổ, mà ở tư duy biện chứng luận trị: hiểu đúng bản chất công năng, đặt lợi ích và an toàn của người bệnh lên hàng đầu, đồng thời linh hoạt vận dụng tri thức cổ truyền trong khuôn khổ khoa học và đạo đức hiện đại.

Dẫu vậy, không thể phủ nhận rằng các vị thuốc từ ngựa mang giá trị đặc biệt ở khía cạnh lịch sử và tư duy y học. Chúng cho thấy người xưa đã quan sát rất kỹ đời sống động vật, từ tập tính, thể chất đến những hiện tượng bất thường trong cơ thể, để rút ra quy luật ứng dụng vào chữa bệnh cho con người.

Theo TSK số 703 + 704

[Banner Mid] Hồng Phát


Ý kiến của bạn

{% item.name %}

{% item.comment %}

Đọc thêm

sile

Ngựa trong y học cổ truyền

hôm qua

Trong văn hóa phương Đông, ngựa là hình ảnh quen thuộc gắn liền với sức bền, sự trung thành và tinh thần tiến thủ. Năm Bính Ngọ vì thế luôn gợi lên khí xuân mạnh mẽ, vận động không ngừng và khát vọng vươn xa.

sile

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu y học cổ truyền lần thứ 2

13/01/2026 00:00:00 GMT+0700

Nhận lời mời của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tháng qua, đoàn công tác Bộ Y tế do GS.TS.BS Trịnh Thị Diệu Thường, Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền dẫn đầu, đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu lần thứ 2 về y học cổ truyền tại New Delhi (Ấn Độ).

sile

Y học cổ truyền: Kho báu tiềm năng của nhân loại

13/01/2026 00:00:00 GMT+0700

Trong khi con người miệt mài theo đuổi những phương pháp chăm sóc sức khỏe tiên tiến của y học phương Tây, thì dường như họ đang lãng quên một kho báu y học có từ ngàn đời là y học cổ truyền.

sile

Phụ tử vị thuốc mong manh ranh giới “thiện”, “ác”

31/12/2025 00:00:00 GMT+0700

Là một trong tứ đại danh dược của y học cổ truyền (gồm Sâm, Nhung, Quế, Phụ), phụ tử có tác dụng hồi dương cứu nghịch nhưng cũng là vị thuốc cực độc.

sile

Nên gọi “đông trùng hạ thảo comi” thay “đông trùng hạ thảo nam”

17/12/2025 00:00:00 GMT+0700

Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Thuốc & Sức Khỏe (số 692, tháng 3/2025), người viết chỉ rõ sự khác nhau giữa 2 loại Đông trùng hạ thảo (ĐTHT). Vì đã quen với tên ĐTHT, nên tôi nghĩ có thể thêm từ ‘bắc’ (phương bắc) và từ ‘nam’ (phương nam) vào tên gọi để phân biệt. Nhưng nay thiết nghĩ nên bỏ từ ‘nam’ mà đổi lại là ĐTHT comi.

sile

Thiếu máu não mạn tính: Bệnh phổ biến nhưng có thể phòng ngừa

05/11/2025 00:00:00 GMT+0700

Thiếu máu não mạn tính (TMNMT) xảy ra khi máu lên não giảm trong thời gian dài, khiến các tế bào thần kinh không được cung cấp đủ oxy và dưỡng chất. Người bệnh thường cảm thấy đau đầu âm ỉ, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, hay quên, mệt mỏi và kém tập trung. Tình trạng này kéo dài có thể làm não bộ dễ bị tổn thương, tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở người lớn tuổi.

sile

{% item.title %}

{% item.time_ago %}

{% item.short_description %}