Y học cổ truyền

26/08/2023 GMT+0700

Đinh lăng, Ba kích phân biệt thật giả

TSKH. Trần Công Khánh

Không chỉ hai loại rễ cây Đinh lăng và Ba kích nói trên, thị trường dược liệu còn nhiều sự nhầm lẫn khác nữa (hoặc bị giả mạo), mà người mua khó phân biệt thật giả nếu không am hiểu về vị thuốc cần mua.

Bạn Phan Hữu T. – Hậu Giang hỏi: Ở chỗ tôi, người ta đi bán dạo một loại rễ, gọi là Đinh lăng Ba kích, tôi chụp lại, gửi TSK nhờ Tòa soạn xem giúp có đúng không và làm sao để biết thật hay giả?”.

TSKH. Trần Công Khánh giải đáp như sau:

Trong bó rễ cây buộc sau xe máy, nếu không phải là sản vật thu hoạch từ cây nhà tự trồng thì chắc người bán hàng cũng khó phân biệt được chính xác hai loại rễ Đinh lăng và Ba kích! Còn người mua, cũng không thể phân biệt thật giả của rễ Đinh lăng và rễ Ba kích, nếu chưa một lần nhìn thấy hai loại rễ này. Để tránh mua nhầm rễ cây rừng về uống (có thể lẫn rễ cây độc) sẽ rất nguy hiểm đến tính mạng, chúng tôi nêu những đặc điểm chính để nhận biết hai loại rễ mà bạn hỏi:

Đinh lăng

Đinh lăng là một cây thuốc quý, còn có tên là Đinh lăng lá nhỏ, cây Gỏi cá. Tên khoa học là Polyscias fruticosa (L.) Harms., họ Nhân sâm (Araliaceae).

Đinh lăng là cây bụi, cao 1,5 – 2m, sống nhiều năm. Thân nhẵn, nhiều cành, các cành non có lỗ vỏ và vết sẹo do lá rụng để lại. Lá kép 2 – 3 lần hình lông chim, mọc so le, dài 20 – 40cm, cuống lá dài, gốc cuống lá phình thành bẹ ngắn ôm lấy thân. Lá chét đôi khi chia thùy, có chóp nhọn, mép lá có răng cưa nhọn không đều, cuống dài 3 – 10mm. Cụm hoa là chùy ở ngọn cây, dài 7 – 18cm, gồm nhiều tán đơn ngắn; mỗi tán có 15 – 20 hoa nhỏ màu trắng hay lục nhạt, có cuống ngắn. Quả hình trứng dẹt, khi chín màu tím đen. Cây ra hoa tháng 4 – 7.

Bộ phận làm thuốc là lá, gốc và rễ của cây Đinh lăng. Toàn cây, nhất là lá có mùi thơm đặc biệt. Lá non thường ăn như rau sống và ăn gỏi cá (nên có tên là cây Gỏi cá). Lá Đinh lăng phơi khô, nấu nước uống có mùi thơm đặc trưng của vị thuốc Đương quy (lá tươi không có mùi này).

Rễ Đinh lăng có vị ngọt, tính bình; dùng làm thuốc tăng lực, tăng sức chịu đựng của cơ thể và chống stress. Người bị suy nhược, uống Đinh lăng để chóng phục hồi, ăn ngon, ngủ tốt, tăng cân. Rễ tươi có màu vàng nhạt, mùi thơm nhẹ đặc biệt, thường dính liền với gốc thân, gồm nhiều rễ to, nhỏ không đều nhau, rất đa dạng. Rễ nhỏ mềm, dễ bẻ gãy, vết gẫy mịn, không có xơ. Để làm thuốc, người ta lấy rễ ở những cây từ 3 – 4 năm trở lên (càng lâu năm càng tốt).

Ở Việt Nam, ngoài cây Đinh lăng lá nhỏ nói trên, còn có nhiều loài khác cũng gọi là Đinh lăng (cùng chi, cùng họ), được trồng làm cảnh, nhưng lá không ăn được và cũng không dùng làm thuốc như:

– Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Baill). Lá kép thường có 3 lá chét, phiến lá chét hình trái xoan hoặc gần tròn.

– Đinh lăng trổ hay Đinh lăng viền bạc (Polyscias guilfoylei (W. Bull) L.H. Bailey). Lá kép có 5 – 7 lá chét hình trái xoan, có răng hay xẻ, mép lá chét thường có viền trắng.

– Đinh lăng lá to hay Đinh lăng lá ráng (Polyscias filicifolia (C. Moore ex E. Fourn.) L.H. Bailey. Lá kép có 11 – 13 lá chét, phiến lá chét hình mác có răng cưa to và sâu.

Do có nhiều loại nên khi khai thác rễ Đinh lăng làm thuốc để bán, người ta thường để lại một cành nhỏ có lá ở gốc thân, để dễ nhận biết, tránh nhầm lẫn.

Ba kích

Rễ Ba kích bán trôi nổi trên thị trường có nhiều loại, thật giả lẫn lộn, khó phân biệt. Cây Ba kích làm thuốc còn có tên là Dây ruột gà, Chẩu phóng xì, Sáy cáy (Thái), Thau tày cáy (Tày), Chày kiềng đòi (Dao), Roi ca (Mường). Tên khoa học là Morinda officinalis How, họ Cà phê (Rubiaceae).

Ba kích là cây bụi trườn hoặc leo bằng thân quấn, dài đến 2m hoặc hơn, sống nhiều năm. Thân non có lông mềm, màu xanh lục hoặc nâu tím, sau nhẵn. Lá mọc đối, hình bầu dục hẹp hay hình mũi mác, dài 6 – 14cm, rộng 2,5 – 6cm, cuống ngắn. Lá kèm mỏng, ôm sát vào thân. Cụm hoa là một tán giả ở đầu cành, dài 0,3 – 1,5cm. Hoa nhỏ, màu trắng sau hơi vàng; lá đài dính liền nhau thành hình chén; cánh hoa dính liền thành ống dài 3 – 4mm, có 4 thùy tràng. Nhị 4 đính vào họng ống tràng. Bầu dưới. Quả hình cầu, rời hay dính liền nhau (quả tụ), mang đài tồn tại ở đỉnh, khi chín màu đỏ cam. Hạt hơi dẹt, vỏ hạt có lông. Rễ hình trụ, mập, phân nhánh, có những chỗ thắt lại không đều như ruột gà; thịt rễ dày, màu trắng ngà hoặc tím nhạt, lõi rễ nhỏ.

Theo Đông y, rễ Ba kích có vị ngọt, hơi cay, tính ấm, vào kinh thận. Có tác dụng ôn thận, trợ dương, mạnh gân cốt. Dùng chữa dương suy, liệt dương, di tinh, làm mạnh gân cốt. Người có âm hư, hỏa thịnh, đại tiện táo bón thì không được dùng. Liều 4 – 12g/ngày, dùng dưới dạng thuốc sắc, cao lỏng, hoặc ngâm rượu.

Chú ý: Ngoài rễ Ba kích làm thuốc, trên thị trường có thể còn lẫn (hoặc giả mạo) rễ của một số loài thường gặp sau đây:

– Ba kích lông (Morinda cochinchinensis DC.): Thân leo, toàn cây có lông mịn, dày, lá to, nhiều quả hạch dính liền nhau, gần hình cầu, khi chín màu vàng, rễ nhỏ hơn, thẳng, ít phân nhánh và ít chỗ thắt hơn Ba kích. Không dùng làm thuốc.

– Cây mặt quỷ (Morinda umbellata L.): Thân leo nhẵn, lá nhỏ, rễ nhỏ, cứng và ít chỗ thắt như ruột gà, thịt rễ mỏng, màu vàng, lõi rễ to; quả tụ, gần hình cầu dẹt (dễ nhầm với cây Ba kích có quả tụ). Không dùng làm thuốc.

Tóm lại, không chỉ hai loại rễ cây Đinh lăng và Ba kích nói trên, thị trường dược liệu còn nhiều sự nhầm lẫn khác nữa (hoặc bị giả mạo), mà người mua khó phân biệt thật giả nếu không am hiểu về vị thuốc cần mua. Vì vậy, nên mua dược liệu có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, tại những cửa hàng bán thảo dược lâu năm, có uy tín. Tuyệt đối không mua thuốc bán ở ven đường, dọc phố.

[Banner Mid] Hồng Phát


Ý kiến của bạn

{% item.name %}

{% item.comment %}

Đọc thêm

sile

Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu y học cổ truyền lần thứ 2

13/01/2026 00:00:00 GMT+0700

Nhận lời mời của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tháng qua, đoàn công tác Bộ Y tế do GS.TS.BS Trịnh Thị Diệu Thường, Cục trưởng Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền dẫn đầu, đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu lần thứ 2 về y học cổ truyền tại New Delhi (Ấn Độ).

sile

Y học cổ truyền: Kho báu tiềm năng của nhân loại

13/01/2026 00:00:00 GMT+0700

Trong khi con người miệt mài theo đuổi những phương pháp chăm sóc sức khỏe tiên tiến của y học phương Tây, thì dường như họ đang lãng quên một kho báu y học có từ ngàn đời là y học cổ truyền.

sile

Phụ tử vị thuốc mong manh ranh giới “thiện”, “ác”

31/12/2025 00:00:00 GMT+0700

Là một trong tứ đại danh dược của y học cổ truyền (gồm Sâm, Nhung, Quế, Phụ), phụ tử có tác dụng hồi dương cứu nghịch nhưng cũng là vị thuốc cực độc.

sile

Nên gọi “đông trùng hạ thảo comi” thay “đông trùng hạ thảo nam”

17/12/2025 00:00:00 GMT+0700

Trong một bài viết đăng trên Tạp chí Thuốc & Sức Khỏe (số 692, tháng 3/2025), người viết chỉ rõ sự khác nhau giữa 2 loại Đông trùng hạ thảo (ĐTHT). Vì đã quen với tên ĐTHT, nên tôi nghĩ có thể thêm từ ‘bắc’ (phương bắc) và từ ‘nam’ (phương nam) vào tên gọi để phân biệt. Nhưng nay thiết nghĩ nên bỏ từ ‘nam’ mà đổi lại là ĐTHT comi.

sile

Thiếu máu não mạn tính: Bệnh phổ biến nhưng có thể phòng ngừa

05/11/2025 00:00:00 GMT+0700

Thiếu máu não mạn tính (TMNMT) xảy ra khi máu lên não giảm trong thời gian dài, khiến các tế bào thần kinh không được cung cấp đủ oxy và dưỡng chất. Người bệnh thường cảm thấy đau đầu âm ỉ, chóng mặt, hoa mắt, mất ngủ, hay quên, mệt mỏi và kém tập trung. Tình trạng này kéo dài có thể làm não bộ dễ bị tổn thương, tăng nguy cơ tai biến mạch máu não, một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn phế ở người lớn tuổi.

sile

10 nguyên tắc giữ sức khỏe cho người cao tuổi trong mùa thu

06/10/2025 00:00:00 GMT+0700

Theo quan điểm y học cổ truyền, mùa thu thuộc hành Kim trong Ngũ hành, liên quan trực tiếp đến Phế và Đại trường. Đây là giai đoạn cơ thể dễ bị hao tổn tân dịch, dẫn đến các biểu hiện như ho khan, khô mũi, khô họng, táo bón hoặc cảm giác mệt mỏi, khó ngủ.

sile

{% item.title %}

{% item.time_ago %}

{% item.short_description %}