
Ảnh: Getty Images
Sinh lý bệnh của chứng này là do nhiễm thấp nhiệt tà khiến can khí uất kết, không sơ tiết được đởm nên sinh ra vàng da.
Ngoài ra, thói quen ăn uống không điều độ; lúc quá ít, lúc quá nhiều; dùng nhiều đồ cay nóng; lao lực quá sức kết hợp uống bia rượu khiến công năng tiêu hóa của tỳ vị bị rối loạn sinh ra thấp.
Thấp ứ đọng lâu sinh ra nhiệt, nhiệt uất kết sinh ra hoàng đản. Chứng hoàng đản gồm 2 loại:
– Dương hoàng: Mắt vàng, da vàng tươi, nước tiểu vàng, nếu nhiệt nặng hơn thấp, sốt, khát nước, nước tiểu ít, đi cầu táo, phân khô khó đi, bụng có thể có trướng đầy, rêu lưỡi vàng bẩn.
– Âm hoàng: Da vàng tối sậm, mắt không vàng, người mệt mỏi vô lực, ăn kém, chậm tiêu, chán ăn, bụng đầy trướng, đại tiện nhão, đau âm ỉ cạnh sườn, không sốt, nước tiểu bình thường.
Từ hàng trăm năm nay, cha ông ta đã có một số kinh nghiệm sử dụng cây cỏ để chữa trị hoàng đản, trong đó đáng chú ý ba loại sau:
1. Rau má

Rau má. Ảnh: ihs
Theo sách “Những cây thuốc - vị thuốc Việt Nam” của GS Đỗ Tất Lợi, rau má có tên khoa học: Centella asiatica (L.) Urb, là loại vừa làm rau ăn vừa có thể chữa bệnh.
Trong rau má có chứa alcaloid là hydrocotylin và các glycosid asiaticosid và centellosid, có vị đắng, ngọt, tính hơi mát.
Công dụng: Thanh nhiệt giải độc (trong đó có giải độc gan), tán ứ chỉ thống, lương huyết sinh tân, lợi niệu.
Dùng chữa phụ nữ đau bụng kinh, đau lưng; chữa đau bụng tả - lỵ; chữa rôm sẩy, mẩn ngứa.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rau má có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm và có thể ngăn tổn thương gan hay nói cách khác là bảo vệ gan. Nhưng có vài người sau khi dùng rau má liên tục 2 tháng để trị mụn và giảm cân lại bị tổn thương gan và vàng da.
Kết quả theo dõi trong vòng 1 – 2 tháng sau khi ngừng dùng rau má thì người bênh khỏi hoàn toàn.
Vì vậy sách của GS Đỗ Tất Lợi khuyên dùng liều mỗi ngày 30 – 40g tươi và người bệnh cần theo dõi cơ thể mình xem có dấu hiệu bất thường nào không.
2. Nghệ

Nghệ. Ảnh: Getty Images
Tên khoa học Curcuma longa L., có chứa curcumin, tinh dầu, tinh bột, calci oxalate, chất béo. Nghệ có vị cay, đắng, tính ôn.
Công dụng kích thích thông tiết mật, bảo vệ gan, giảm cholesterol Trong những năm gần đây một số nghiên cứu cho thấy curcumin ức chế sự xâm lấn của tế bào ung thư biểu mô (HCC), làm giảm tải lượng virus viêm gan B (HBV), hạn chế sự lây nhiễm. Do đó, sẽ ngăn chặn sự tái nhiễm HBV.
Ngoài ra nghệ còn có tác dụng chống viêm. Thời gian qua, trong Y học cổ truyền nghệ dùng chữa viêm dạ dày rất hiệu quả.
Gần đây nhiều chứng minh cho thấy nghệ còn hiệu quả trong chống viêm gan, vì vậy người bệnh có thêm một chọn lựa trong chữa trị bệnh này. Nghệ có thể được dùng 8 – 10g/ngày.
3. Râu ngô

Râu ngô. Ảnh: Getty Images
Tên khoa học Stigmata Maydis, là vòi và núm hoa của cây Ngô, tên khoa học Zea mays L. Theo Đông y, râu Ngô tính bình, vị ngọt, không độc, có tác dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, bình can, lợi mật; chủ trị các chứng bệnh viêm thận sinh ra phù thũng, viêm gan vàng da, cao huyết áp, đái tháo đường, chảy máu cam… mỗi ngày dùng 10 – 20g dạng nấu sôi hay pha trà.
Theo tác dụng dược lý học, râu Ngô có tác dụng chống oxy hóa và bảo vệ tế bào gan. Khuyến cáo, nên dùng đúng liều chỉ dẫn sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn.
Theo TSK số 684
![[Banner Top] Medlaw](/uploads/a7259844-bfd9-4875-9a6c-a7f560b6be97.jpg)
![[Banner Top] Hồng Phát](/uploads/88dbe592-ac75-433d-94aa-d42b69ff5a0c.jpg)

![[Banner Mid] Hồng Phát](/uploads/0a12ba57-9f3d-4828-94da-cf937789b409.jpg)
![[Banner Side] Medlaw](/uploads/b729448e-c98e-455a-9d7a-9e658c271f5b.jpg)
Ý kiến của bạn
{% item.name %}
{% item.comment %}